Dịch và giới thiệu văn học cổ Việt Nam: Những điều bất cập (1)

THIẾU KHANH

Gia Định Báo

Đề cập sự kiện "CD 10 ca khúc nổi tiếng của VN được chuyển sang tiếng Anh" bồi rất... trời ơi mới đây (mà trang web của Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch VN đăng bài hí hửng khoe "Chuyển ngữ sát nghĩa tiếng Anh" để "Chắp cánh cho ca khúc Việt bay xa") trên trang blog Nguyễn Văn Tuấn tác giả viết:

"Nhưng dịch nhạc và thơ Việt sang tiếng Anh là việc làm rất khó khăn.  Nó đòi hỏi người dịch chẳng những phải am tường tiếng Anh tiếng Việt mà còn phải có kiến thức tốt về văn thơ của cả hai ngôn ngữ.  Dịch thơ văn và nhạc không chỉ đơn thuần là việc chuyển ngữ mà còn là một công trình sáng tác."

Những yêu cầu cho dịch thuật nhất là dịch thơ như Gs Nguyễn Văn Tuấn nói trên đây vốn đã được nhận thấy từ hàng ngàn năm trước và được khẳng định một cách cụ thể từ cuối thế kỷ 17. Nhưng trước khi xảy ra vụ "CD với 10 ca khúc" được "dịch" một cách tai hại nói trên người ta đã có dịp nhận thấy việc dịch và giới thiệu văn học cổ VN đã được một vài dịch giả trong nước thực hiện ngoài "chuẩn" quy định mà hệ quả tuy không đến nỗi... "you inside me after class"([1]) (!) nhưng cũng hết sức bôi bác trời ơi.

Người La Mã là những người đầu tiên làm công việc dịch thuật từ thời cổ đại. Năm 196 trước công nguyên các thành bang Hy Lạp chịu nhận sự bảo hộ của La Mã. Người La Mã chiến thắng và cai trị người Hy Lạp nhưng họ vốn rất ngưỡng mộ nền văn minh và văn học của Hy Lạp và họ đã dành rất nhiều nỗ lực để dịch các tác phẩm văn học của Hy Lạp trong đó những trường thiên anh hùng ca Odyssey và Iliad của thi hào Homer vốn là những viên ngọc bất hủ. Ngay khi phát minh dịch thuật người La Mã đã dịch thơ. Tác phẩm văn học của tất cả các quốc gia thời cổ đại chủ yếu là thơ. Đó là loại tác phẩm dễ lưu truyền bằng miệng và theo trí nhớ khi các phương tiện in ấn chưa ra đời. Kinh nghiệm sớm về dịch thuật của họ cũng là kinh nghiệm dịch thơ. Nhưng chỉ đến nửa sau thế kỷ 17 nhà thơ kịch tác gia kiêm nhà phê bình văn học người Anh John Dryden (1631- 1700) mới tổng kết kinh nghiệm của các thế hệ những những nhà nghiên cứu dịch thuật để đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một dịch giả. John Dryden đòi hỏi người dịch thơ phải là một nhà thơ phải nắm vững cả hai ngôn ngữ và ngoài việc phù hợp với các tiêu chuẩn thẩm mỹ của thời đại của mình dịch giả phải am hiểu cả các đặc tính và "tinh thần" của tác giả nguyên tác. ("To translate poetry ... the translator must be a poet must be a master of both languages and must understand both the characteristics and "spirit" of the original author besides conforming to the aesthetic cannons of his own age."[2]).

Hơn ba trăm năm qua từ Đông sang Tây dường như chưa có ai phản bác các yêu cầu này của nhà thơ kiêm nhà phê bình văn học người Anh đó. Không những thế nhận định của ông ngày càng được khẳng định và có giá trị gần như một "định lý". Riêng trong nền văn học VN cho đến gần đây hầu như các dịch giả dịch thơ bản thân họ đều vốn là nhà thơ nổi tiếng nhất là nhà thơ Đoàn Thị Điểm đã dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn từ nguyên tác chữ Hán ra chữ Nôm. Có một trường hợp tưởng là ngoại lệ là nhà văn Khái Hưng người đã dịch một bài thơ từ nguyên tác tiếng Pháp Sonnet d Arvers (Bài Sonnet của Arvers) trong tập thơ Mes heures perdues (Những giờ phút nhàn rỗi của tôi) của nhà thơ Pháp Félix Arvers (1806 -1850). Khái Hưng là nhà văn dường như không thấy nói ông có làm thơ. Nhưng có đọc tác phẩm Tiêu Sơn Tráng Sĩ của ông mới biết ông rất am tường thi pháp cổ điển không kém gì một nhà thơ. Và bài thơ dịch "Tình Tuyệt Vọng" của ông "Lòng ta chôn một khối tình / Tình trong giây phút mà thành thiên thu..." chứng tỏ ông là một nhà thơ vững vàng.

Hiện nay tình trạng dịch và giới thiệu mảng thơ của nền văn học cổ đã cho thấy nhiều bất cập. Nhiều dịch giả dịch mảng thơ này bản thân không phải là nhà thơ thiếu những kiến thức nhất định về văn học thậm chí chưa nắm vững ý nghĩa trong văn bản ngôn ngữ nguồn và xuệch xoạc với ngôn ngữ đích. Cũng trên trang blog Nguyễn Văn Tuấn tác giả nhận thấy "Trong thực tế đã có biết bao trường hợp những bài thơ được dịch sang tiếng ngoại quốc trở thành đại họa cho tác giả." Đó là hậu quả tất nhiên từ trình độ non yếu của người dịch.

Từ một số bài thơ của nền văn học cổ điển VN đã được dịch ra tiếng Anh và xuất bản có thể thấy được các sai lầm yếu kém làm lộ rõ ba vấn đề căn bản:

1. Ai dịch? Và dịch như thế nào?

2. Dịch cho ai đọc?

3. Họ đã hiệu đính các bản dịch như thế nào?

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng điểm một. Trước hết


1. Ai dịch? Và dịch như thế nào?

Không phải vô cớ mà John Dryden đòi hỏi bản thân người dịch thơ phải là một nhà thơ trước đã. Trước ông nhà thơ Anh Sir John Denham (1615-1669) đã biết rằng người dịch thơ không phải chỉ làm cái công việc chuyển một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác mà là chuyển cái chất thơ cái hồn thơ (poesie) từ ngôn ngữ này thành cái chất thơ cái hồn thơ trong ngôn ngữ kia.

Phần lớn và là phần quan trọng của mảng văn học cổ VN là thơ. Mà là thơ cổ. Việc dịch những bài thơ đó sang tiếng nước ngoài đúng là rất khó khăn đòi hỏi người dịch không những phải là một nhà thơ mà còn phải am hiểu văn học và văn học sử VN đến một chừng mực nhất định. Không đáp ứng yêu cầu này có thể người dịch không những không chuyển đạt đúng nội dung nguyên tác mà còn gây "đại họa cho tác giả." Các "tai họa" đó là do

a.- Dịch giả thiếu kiến thức về văn học - Dịch thơ mà không hiểu thơ.

Cuốn sách Thơ Nữ Việt Nam Từ Xưa Đến Nay Tuyển tập song ngữ ([3]) giới thiệu một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú được gán cho nữ sĩ Sương Nguyệt Anh như sau:

TIẾNG THAN CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ THỜI NAY

Cỏ mướt sân mềm liễu thướt tha

Ngày nào chàng trở lại quê nhà

Nửa rèm trăng úa lòng tê tái

Lẻ gối quyên kêu lệ thấm nhòa

Ải bắc mây giăng mờ bóng nhạn

Giang sơn xuân héo tựa nga my

Tương tư bao độ thầm trong mộng

Từng đến bên anh - biết chăng là

1918.

Sương Nguyệt Anh (bút danh của bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê 1864 - 1922 con gái của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu) một nữ sĩ nổi tiếng là người phụ nữ VN đầu tiên làm chủ bút một tờ báo cũng đầu tiên của phụ nữ VN tờ Phụ Nữ Chung (Tiếng chuông phụ nữ). Nên biết các văn nhân thời trước theo nho học coi văn thơ chữ nghĩa là điều thanh cao quan trọng không thể khinh suất. Thơ được coi là một trong bốn nghệ thuật tao nhã cầm kỳ thi họa mà chỉ những người có học hành có tâm hồn thơ và cảm thức về thơ mới biết sáng tác và thưởng thức. Cho nên trong thơ các cụ rất nghiêm túc về niêm luật vì đối với các cụ làm thơ thất niêm thất luật không chỉ là sai sót về kỹ thuật mà còn là một bằng chứng của sự học hành thô lậu dốt nát và vì thế là một sự nhục nhã. Bài thơ trên đây về kỹ thuật hoàn toàn là một tác phẩm dở không đáng có và không thể có không thể là thơ của nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Lẽ nào một "con nhà nòi" và là chủ bút tiên phong của một tờ báo tiên phong vào thời nền cổ học còn ảnh hưởng rất mạnh lại là tác giả của một "bài thơ" chỉ đáng là trò cười như thế!

Xét về hình thức bài thơ thất ngôn bát cú này đang có các vần tha nhà nhòa đến vần thứ tư lại là... my rồi vần cuối trở lại với ! Câu "Giang sơn xuân héo tựa nga my" vừa không vần vừa không đối theo luật. Câu thứ sáu đã thất vận đến câu thứ tám lại thất niêm với ba từ cuối rất vô duyên - biết chăng là. Cần biết là vào đầu thế kỷ 20 những tình nhân và thậm chí vợ chồng còn chưa gọi nhau bằng các từ "anh em" như bây giờ nhất là trong văn thơ. Họ thấy nó... trơ trẻn. Khoan khoan ngồi đó chớ ra. Nàng là phận gái ta là phận trai (Lục Vân Tiên). Câu "Từng đến bên anh - biết chăng là" vừa vô duyên vừa không phải là thơ. Nhất định bài thơ đó không phải của bà Sương Nguyệt Anh. Gán cho bà là tác giả bài thơ đó đã là một cách làm nhục bà. Ngoài ra giới thiệu một bài thơ như thế với độc giả nước ngoài chỉ chứng tỏ được một điều: chính người VN chẳng am hiểu được bao nhiêu các tác phẩm văn học của tiền nhân mình.

Nhưng chuyện này là do trình độ hiểu biết về văn học nói chung và về thơ nói riêng của người có trách nhiệm chọn thơ để giới thiệu còn dịch giả thì vô can chớ? Không hẳn vậy. Chưa xem bản dịch tiếng Anh người đọc đã biết dịch giả vừa không phải là một nhà thơ vừa ít am hiểu văn học và văn học sử. Tức là không đúng "tiêu chí" theo như John Dryden nêu ra. Nếu đúng ắt dịch giả đã nhận ra một bài thơ "dỏm" và không phải chịu "khổ nạn" dịch câu "Giang sơn xuân héo tựa nga my" là "The curving hills fade like a woman s delicate eyebrow" để mang tiếng dịch sai vì không hiểu thơ và "tiếp tay" làm nhục nữ sĩ Sương Nguyệt Anh bằng sự mặc nhiên gán cho người phụ nữ tài hoa ấy một bài thơ "dỏm" và dở cực kỳ đến vậy. Gán bài thơ này cho bà Sương Nguyệt Anh để được dịch và giới thiệu với đọc giả nước ngoài là thêm một trường hợp "đại họa cho tác giả" như thế.

Nếu dịch giả là nhà thơ và hiểu biết ít nhiều văn học sử ắt biết nhà thơ Thái Thuận (thế kỷ 15) là phó nguyên soái Tao Đàn của vua Lê Thánh Tôn tài thơ rất nổi tiếng mỗi bài thơ thất ngôn bát cú của ông phải đủ tám câu chớ không phải chỉ có bảy câu như bài dịch "End of Spring in the Citadel" trong tạp chí Vietnam Literature Review the world s Window on Vietnamese Culture Volume III 2009([4])

Ai tư vãn là bài thơ của công chúa Ngọc Hân khóc chồng là hoàng đế Quang Trung được dịch sang tiếng Anh một cách... thật ngộ:

AI TƯ VÃN (Trích)([5])

Buồn thay nhẽ sương rơi gió lọt

Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa

Tưởng lời di chúc thiết tha

Khóc nào lên tiếng thức mà cũng mê...

Dịch:

From LAMENT OF LONELINESS

Such loss: Dew settles the wind pierce

Her tears scatter across the desolate landscape.

She remembers the words of his urgent last wishes

Sobbing sobbing sobbing she seems awake yet in the stupor.

Chỉ với cái tựa và bốn câu đầu tiên được dịch đã thấy cái... tai họa mà bà công chúa xấu số đã phải gánh chịu sau tai họa mất chồng và sắp có thể bị sát hại cả mẹ lẫn con. "Trích" thì được dịch là From. "Ai tư vãn" (Ai: buồn khổ tư: nghĩ ngợi vãn: than thở) được dịch là Lament of Loneliness (Tiếng than của sự cô đơn)! "Buồn thay nhẽ" được dịch thành "Such loss" (!). "Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa" thành ra "Her tears scatter across the desolate landscape"! Và "Khóc nào lên tiếng " thì thành "Sobbing sobbing sobbing."!

Ngoài cách dịch thơ "lạ lùng" đó dịch giả vì không có kiến thức cơ bản về văn học sử nên không cảm nhận được nội dung của tác phẩm đã không biết Ai Tư Vãn là bài thơ khóc chồng của Lê Ngọc Hân nguyên Bắc cung hoàng hậu của vua Quang Trung. Không biết Ngọc Hân là tác giả bài thơ là người than khóc là nhân vật ngôi thứ nhất. Vì không biết thế cho nên trong suốt bản dịch dịch giả đã nhất mực từ chối thân phận chủ thể của tác giả Ngọc Hân đẩy tác giả xuống ngôi thứ ba như một người xa lạ - sheher và khi bà góa phụ vương giả nói đến chồng mình thì người dịch "buộc" bà dùng những từ he hishim. Khi tác giả than mình không còn được hàn huyên với chồng "Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh" thì dịch giả dịch thành: "No longer can they exchange greetings" - Họ không còn chào hỏi nhau được nữa!

Chuyện "không biết" này được nhận thấy một lần nữa ở một dịch giả khác cũng trong cuốn sách Thơ Nữ Việt Nam... nói trên với bài Hạnh Thục Ca([6]) một bài thơ dài kể lại việc vua Hàm Nghi "xuất bôn" rời kinh thành Huế chạy ra Quảng Trị sau mưu toan chống Pháp không thành. Ở đây (và thêm một chỗ khác nữa) người dịch cũng dịch "Trích" là From còn cái tựa Hạnh Thục Ca (Bài ca về hành trình [vua Đường Minh Hoàng lánh nạn An Lộc Sơn] trốn vào đất Thục) được dịch là Chant of Redemption (!!)

Cứ cho Chant là "bài ca" đi Redemption có nghĩa là sự chuộc lại tội lỗi chuộc lại vật cầm cố chuộc kẻ bị tù tội hoặc sự trang trải hết nợ nần. Thế thì Redemption dính gì với chuyện vua Hàm Nghi bỏ kinh đô chạy ra Tân Sở được tác giả ví như vua Đường "hạnh Thục"? Bài ca "chuộc lại" cái gì đây?

Hai câu ở đầu đoạn trích này nhà vua (Hàm Nghi) lúc này đã chạy ra Quảng Trị tâu xin Thái hậu cùng chạy lên đồn Tân Sở để tránh giặc Pháp được chép là:

Gởi xin Tần Sở kíp lên

Ở đây thế ắt chẳng nên đâu là

Và được dịch:

They asked for shelter in Tần Sở to escape in time

For it was not the least bit wise to stay behind!

Lại một lần nữa ngoài cách dịch "xa xăm" người có trách nhiệm chọn bài dịch lẫn dịch giả đều không hiểu thơ và không nhớ cả lịch sử nước nhà nên có lẽ cho đây là một thứ truyện Tàu "diễn thơ" kiểu như... Nhị thập tứ hiếu và tưởng đồn Tân Sở ở Quảng Trị là nước Tần nước Sở nào ở bên... Tàu!

Dù sao đó là những đoạn tác phẩm mà trong đó lời xưng hô không bộc lộ rõ ràng dịch giả không phải nhà thơ không hiểu văn học và không cảm được thơ nên không nhận ra. Thế nhưng trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm người chinh phụ luôn gọi chàng xưng thiếp mà sao dịch giả cũng không hiểu chàng với thiếp nghĩa là gì để cứ một mực gán cho họ là she/her he/him?

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền([7])

Câu 6 trên thì đã rõ nghĩa. Câu 8 dưới có nghĩa là: đi bộ thì thiếp không cưỡi ngựa được còn đi đường thủy thì thiếp không đi thuyền được cho nên thiếp rất tiếc không thể theo chàng.

Hai câu được dịch ra tiếng Anh... chẳng ăn nhập vào đâu cả:

The battle calls him away leaving her in anguish

No longer his mate once he leaps astride his horse or steps into his boat.

(Trận chiến gọi anh ta đi xa để nàng/cô ta ở lại trong đau khổ

Không còn là người bạn của anh ta nữa một khi anh ta nhảy lên lưng ngựa hay bước xuống thuyền của anh ta)!

Và:

Nhủ rồi tay lại cầm tay

Bước đi một bước dây dây lại dừng (dây dây?)

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi

Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san

Thành ra

They hold hands sharing gentle counsel tender words

He takes a step away and preoccupied another step then pauses.

Her heart like the moon s shadow follows him;

His heart far away seeks glory in the Heavenly Mountains

Thôi bỏ qua cách dịch hoàn toàn không đạt bỏ qua cách dịch word for word mà không nhận ra sự trái nghĩa của từ (bóng trăng dịch thành moon s shadowshadow là bóng tối trong khi bóng trăng có nghĩa là ánh sáng trăng) bỏ qua việc dịch giả không hiểu tiếng Việt "nhủ" có nghĩa là dặn dò không biết "Thiên San" là tên núi vì nó ở... bên Tàu những điều đó thuộc về khả năng thông hiểu hai ngôn ngữ của dịch giả. Có điều kỳ lạ là dịch giả không biết chàngthiếp có nghĩa hiện đại là anhem!

Một dịch giả khác thậm chí ngay cả từ ta nghĩa là... ta mà vẫn cứ tưởng là một anh chàng nào khác ở ngôi thứ ba:

Mười bảy hay là mười tám đây

Cho ta yêu dấu chẳng rời tay ([8])

Thành ra:

Seventeen or eighteen you should be

Cherrished never leaving his hands.

Và lạ lắm nhé cũng trong bài thơ "Vịnh cái quạt giấy" đó của nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

Thành ra:

A rose fan and powdered cheeks can charm!

Điều này thuộc một "tiêu chí" dịch thuật khác sẽ được đề cập sau.

Người dịch thơ mà bản thân không phải là nhà thơ nhưng nếu "nắm vững hai ngôn ngữ - [ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích]" (master of both languages) am hiểu cả các đặc điểm và "tinh thần" của tác giả văn bản nguồn" (understand both the characteristics and "spirit" of the original author) và "phù hợp với các nguyên tắc thẩm mỹ của thời đại của dịch giả" (conforming to the aesthetic cannons of his own age) theo các tiêu chuẩn John Dryden nêu ra thì có lẽ bản dịch của họ chỉ thiếu một chút chất thơ thôi chớ không đến nỗi xa nguyên tác đến mức "diệt" thật sự như thế.

b.- Dịch giả thiếu kiến thức trong những lãnh vực chuyên biệt - Dịch bừa

Nhìn vào chất lượng của một số thơ văn cổ được dịch ra tiếng Anh xuất bản ở VN người ta có thể suy từ "định lý" của John Dryden ra nhiều "hệ luận" khác. Ví dụ để dịch một bài thơ thiền dịch giả phải là một thi sĩ thiền sư hay một nhà tu am hiểu giáo lý của Phật. Nói như thế không phải là chuyện trào phúng cho vui. Một dịch giả "layman" không hiểu gì về đạo Phật mà dịch thơ thiền sẽ thành một... trò dị hợm ngay tức khắc.

Cũng trong cuốn sách Thơ Nữ... bài thơ Sắc Không được cho là của thái phi Ỷ Lan (thứ phi của vua Lý Thánh Tông mẹ của vua Lý Nhân Tông ):

SẮC KHÔNG([9])

Sắc là không không tức sắc

Không là sắc sắc tức không.

Sắc không đều chẳng quản

Mới khế hợp chân tông.

Khi về già thái phi Ỷ Lan đã đi tu (và làm được nhiều điều tốt có lẽ để "chuộc" tội làm cho Dương hoàng hậu vợ cả của vua Lý Thánh Tông cùng với hơn bảy mươi người cung nữ phải chết. Do những việc làm mang tính "sám hối" này bà được dân (không hề hay biết những chuyện ghen tuông trong hoàng cung) yêu kính gọi là Quan Âm. Tuy vậy chọn một bài "kệ" của một nhà tu như bài Sắc Không gọi là "thơ" của bà để giới thiệu ra nước ngoài thì dường như không phù hợp cho lắm. Quan niệm về Sắc và Không của đạo Phật tuy rất cao thâm nhưng đó là các ý tưởng của Phật giáo tức là một phần rất lớn nhân loại những người Phật tử đã cùng biết và ngày nay những từ Sắc Không đã trở nên bình thường trên cửa miệng nhiều người không có gì là đặc biệt của một người hay của một nhà thơ nữ Việt Nam cần được chia sẻ với thế giới. Có Phật tử nào mà không thuộc Bát Nhã Tâm Kinh "Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không... Sắc bất dị không không bất dị sắc. Sắc tức thị không không tức thị sắc..."?

Giới thiệu một "bài thơ" như thế vốn đã không "đắc" mà bài dịch sang tiếng Anh lại biến bài "thơ" đó thành... trò đùa cho nên hiệu quả thật là tiêu cực.

Đây là bài dịch tiếng Anh:

BEING NON-BEING

Being is non-being non-being being

Non-being is being being non-being

Pay no mind to being and non-being

Only then is there unity of the whole.

Being với những non-being đọc lên líu lưỡi nghe như một câu thần chú buồn cười và vô nghĩa. Dịch SắcKhôngbeingnon-being là mượn các khái niệm triết học Tây phương có tồn tại hay không tồn tại có sống hay không sống gán ép vào triết học Phật giáo một cách lấy râu ông nọ cắm cầm bà kia rất thô thiển. Beingnon-being không hề có nghĩa tương đương với SắcKhông trong đạo Phật và the whole cũng đâu có nghĩa gì là "chân tông"!

Sắc trong đạo Phật là sắc tướng hình tướng là vạn vật hữu hình; nói chung tất cả những gì con người "chấp" là "có" thì đều được coi là "Sắc" - Form. Không thì phức tạp hơn. Nó đối lại với Sắc nhưng không phải là không có Sắc không phải là trống không không có gì cả. Không tiếng Phạn là Sunyata. Oshoo trong The Heart Sutra Oshoo talks on Buddha giữ nguyên từ Sunyata mà không dịch sang tiếng Anh; ông cho là tiếng Anh không có từ tương đương. Và bản dịch Bát Nhã Tâm kinh từ chữ Phạn sang tiếng Anh được phổ biến cũng giữ nguyên chữ Sunyata như thế:

"O Shariputra form is no other than sunyata. Sunyata is no other than form. From is exactly sunyata. Sunyata exactly form. Feeling thought volition and consciousness are likewise like this."

(Xá Lợi tử sắc bất dị không không bất dị sắc. Sắc tức thị không không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. - Này ông Xá lợi tử sắc không khác không không không khác sắc. Sắc chính là không; không chính là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng đều như thế cả.)

Thế nhưng tuy không có từ tiếng Anh nào mang nghĩa chính xác của từ Sunyata tiếng Phạn vốn không hoàn toàn có nghĩa là nothing / nothingness hay empty / emptiness nhưng không phải người nói tiếng Anh nào cũng hiểu được nghĩa từ tiếng Phạn Sunyata. Cho nên người ta đã tạm dùng từ void để dịch chữ Không giúp người đọc tạm có được một khái niệm gần đúng. Thay vì being với non-being những câu sắc-không ấy có thể chỉ đơn giản là

FORM AND VOID

Form is void void is form

Void is form form is void...

To find one s true way to conform

Pay no mind to form and void

Không phải là một bài thơ thiền nhưng bài thơ Vằng Vặc Trăng Mai của Nguyễn Thị Điểm Bích (Thế kỷ XII)([10]) có những câu có vẻ mang phong vị "nhà chùa" :

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ

Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình.

Được dịch:

A refreshing man of peace: The scene is usual

Wherever Sidhartha goes the garden is calming.

Không hiểu dịch giả (là một người nước ngoài làm việc nhiều năm ở Hà Nội) lấy chất liệu ở đâu mà ... tối tác như thế!

Cũng từ những bài thơ đã được dịch và xuất bản ta có thể có "Hệ luận" thứ hai: Để dịch những bài thơ liên quan đến âm nhạc dịch giả nên vừa là một nhà thơ vừa có sự hiểu biết nhất định về âm nhạc.

Nghe thì có vẻ buồn cười nếu không phải là cường điệu cho vui. Nhưng thật đấy. Đây là trường hợp một dịch giả không am hiểu những khái niệm đơn giản trong âm nhạc truyền thống của Việt Nam nên dịch sai và do đó độc giả người nước ngoài sẽ không hiểu gì cả hoặc sẽ... phì cười.

"Long Thành Cầm Giả Ca" là một bài thơ chữ Hán theo thể cổ phong trường thiên của thi hào Nguyễn Du được nhiều người biết. Mới đây người ta đã làm một cuốn phim "hoành tráng" chuyển thể từ bài thơ này để chiếu trong dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và dự festival phim quốc tế tại Việt Nam. Bài thơ được dịch ra tiếng Anh và giới thiệu trên tập san Vietnam Literature Review([11]).

(Tất cả) bản dịch tiếng Anh trong tạp chí này không kèm theo nguyên tác tiếng Việt. Câu thứ 13 của bản dịch Long thành cầm giả ca:

And her fingers danced on the strings leaping over five octaves.

(Và các ngón tay nàng nhảy múa trên những dây đàn nhảy qua năm octaves.)

Câu đó trong nguyên tác được phiên âm:

Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến (Năm âm thanh réo rắc biến hóa theo tay người đàn.)

Câu tiếng Anh tuy dài nhưng còn xa mới đủ ý của bảy từ trong nguyên tác nhưng điều quan tâm chính ở đây là dịch giả thiếu hiểu biết về âm nhạc truyền thống Việt Nam dùng five octaves để dịch từ ngũ thanh là không chính xác và hoàn toàn vô nghĩa. Ngũ thanhnăm âm chớ không phải là năm octaves. Năm âm vì âm nhạc truyền thống của chúng ta nói một cách đơn giản chủ yếu là nhạc ngũ cung (pentatonic music). Âm giai của nhạc truyền thống của ta là âm giai ngũ âm pentatonic scale hay five-tone scale chỉ có năm nốt mang tên Hò Xự Xang Xê Cống (với năm biến thức gọi theo từ Hán Việt là Cung Thương Giốc Trủy Vũ) tương ứng với các nốt Đô Rê Fa Sol La (hoặc Đô Rê Mi Sol La)([12]) trong âm nhạc Tây phương. Trong khi đó âm nhạc tây phương là nhạc thất cung hoặc thập nhị cung([13]) ghi âm thanh tự nhiên bằng bảy nốt theo thứ tự Đô Rê Mi Fa Sol La Si và bảy nốt này là âm giai tự nhiên Đô của âm nhạc thất cung. Nếu lập lại nốt Đô ở bậc cao trên nốt Si ta sẽ có một âm giai tự nhiên toàn âm (của âm giai) Đô. Từ Đô thấp đến Đô cao là một quãng tám (gồm 8 nốt) tức là một octave. Năm octaves là một âm vực (sound extent) bằng năm lần quãng tám như thế chồng lên nhau từ thấp đến cao. Âm nhạc truyền thống của ta không có quãng tám tự nhiên - octave đó. Vì âm giai của ta chỉ có năm âm thôi mà.

Năm octaves thường là âm vực của đàn harpsichord trong khi âm vực của đàn grand piano trải rộng đến tám octaves (vài cái piano hiện đại thậm chí có âm vực chín octaves). Âm vực của đàn Nguyệt rất hẹp không quá một octave so với nhạc Tây phương; thường là các bản nhạc chơi trên đàn Nguyệt chỉ diễn tấu trong khoảng quãng bốn hay quãng năm thôi. Cho nên nhạc công không thể nào chơi đến năm octaves trên đàn Nguyệt như trong câu dịch tiếng Anh. Người đọc có thể phì cười là vì vậy.

c.- Dịch giả dịch từng từ theo nghĩa đen (word for word)

Ngay từ trước công nguyên Cicero (106 - 43 BC) một trong các lý thuyết gia dịch thuật nổi tiếng của La Mã có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ dịch giả về sau đã nhận thấy không nên dịch sát nghĩa đen từng từ (word for word) mà phải chuyển ý của câu hay cụm từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (sense for sense). Đến nay chúng ta đến sau người La Mã hơn hai ngàn năm nhưng trong dịch thuật đôi khi việc dịch từng từ vẫn còn là một thói quen dễ dãi và... hấp dẫn không cưỡng được. 

Trong bài thơ được gán cho bà Sương Nguyệt Anh đề cập trên đây có câu:

Ải Bắc mây giăng mờ bóng nhạn

Được dịch theo cách word for word thành:

Along the Northen Pass clouds obscure the single swallow.

Người xưa lấy điển tích Tô Vũ một tướng của nhà Hán bị Thiền Vu tức vua của người Hung nô (Hsiung-nu hay Hun) bắt và cầm giữ trên biên cương phía Tây bắc nước Tàu trong mười chín năm ngày ngày phải đi chăn dê. Nhiều lần vua Hán Vũ đế đòi thả Tô Vũ nhưng Thiền Vu nói Tô Vũ đã chết rồi. Tô Vũ bèn viết thư cột vào chân của rất nhiều chim nhạn để mùa đông giống chim này bay về phương nam tránh rét thư có thể đến tay đồng bào ông. Nhờ vậy vua Hán có bằng cớ để đòi Thiền Vu trả Tô Vũ về nước.

Do đó cụm từ "mờ bóng nhạn" trong câu thơ có ý nói không có thư từ tin tức chớ chẳng phải thực sự  nói chi về chim nhạn cả.

Trong một bài khác bài Tự Trào được cho là của nữ sĩ Cao Ngọc Anh([14]) có câu:

Chẳng có chi mà lại có danh

Câu thơ có nghĩa là mình không có công trạng hay thành đạt gì mà cũng có tiếng tăm([15]). Từ "danh" trong câu thơ có nghĩa là thanh danh hay danh tiếng reputation chẳng hạn nhưng cả câu đã được dịch một cách mot-à-mot rất... nghĩa đen:

I have nothing although I ve a name. (!)

Bài dịch tiếng Anh ngắn ngủi này còn có nhiều điều để nói nhưng ở đây chỉ đề cập cách dịch dễ dãi word for word. Chẳng hạn từ tiên trong các câu:

Dở tiên dở tục dở tu hành

Half fairy half philistine half religious practitioner

Túi nhẹ thơ tiên trí quẩn quanh

Light fairy poems with a muddled view

Tiên có lẽ là một khái niệm rất khó dịch ra các ngôn ngữ phương Tây. Trong ngôn ngữ của họ hình như không có sẵn từ tương đương vì lẽ trong đời sống tinh thần của người Tây phương chỉ có thần thoại chớ không có tiên thoại. Mà trong thần của họ những ông bà thần trong thần thoại Hy Lạp nửa người nữa thánh nửa... quỷ không phải những vị tiên ông tiêu dao phiêu hốt tiên bà nhân từ hiền hậu tiên cô xinh đẹp dịu dàng tất cả luôn thân thiện và sẵn sàng giúp đỡ con người như trong quan niệm của ta. Từ fairy của họ mà nhiều người quen hiểu là tiên là hoàn toàn không phù hợp với hình ảnh ông tiên cô tiên trong tưởng tượng của người VN và có lẽ cả trong một số dân tộc Đông phương. Từ fairy được Từ điển Longman Dictionary of Contemporary English định nghĩa là: a small imaginary creature with magic powers which looks like a very small person. Từ điển Macmilan English Dictionay cũng định nghĩa y như vậy và cho thêm đôi cánh: an imaginary creature with magic powers that looks like a small person with wings. Còn Từ điển Oxford Advanced Leaner s Dictionary cho ví dụ:

a good / wicked fairy

Tức là có fairy hiền và fairy độc ác. Và trong thực tế người ta mặc định fairy là một thứ sinh vật trong tưởng tượng giống người giới tính nữ. Và đặc biệt là nhỏ. Rất bé nhỏ.

Trái với thứ fairy tầm thường trong tưởng tượng trẻ con đó khái niệm tiên trong bài thơ của nữ sĩ Cao Ngọc Anh hàm ý một điều gì cao siêu thanh thoát trong sạch khác với tục và dứt khoát không phải là fairy. Và Tây Phương vì thế hoàn toàn không có khái niệm thơ tiên như giống như của ta. Thơ tiên của ta không phải là fairy poems. Fairy poems của Tây phương là những bài thơ về các "nàng tiên bé xíu" kiểu như thơ của nhi đồng ... sáng nay mẹ lên nương một mình em đến lớp.... Cho nên để chuyển gần đúng nghĩa của từ tiên sang tiếng Anh có lẽ dịch giả phải lao động trí óc dữ lắm chớ không thể dễ dàng dùng "chiêu" word for word mà được. Người Anh Mỹ sẽ ngơ ngác không hiểu gì đâu. Hoặc họ sẽ hiểu rất sai lạc.

Cũng dịch giả này khi dịch một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán "Ngẫu Thành" của Nguyễn Trãi có câu:

Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư (Việc đời như một giấc mộng hoàng lương)

Hoàng là màu vàng - yellow. Hoàng lương là hạt kê (màu) vàng chỉ giản dị là "yellow millet". Ai cũng hiểu cụm từ "giấc mộng hoàng lương" vốn là một điển tích về một anh học trò khó trên đường lên kinh dự thi. Dọc đường trong một quán trọ anh tình cờ ngủ quên bên cạnh bà chủ quán đang nấu một nồi chè kê. Trong mơ anh học trò thấy mình đổ tiến sĩ và làm quan suốt vài chục năm thăng tiến vùn vụt trở nên giàu có sang trọng vợ đẹp con khôn một thời lừng lẫy. Bỗng có người tâu lên vua là anh - bấy giờ đã là một đại quan - phạm tội tham nhũng rất nặng. Vua sai điều tra và với bằng chứng phạm nhiều trọng tội rành rành vị đại quan bị ghép tội tử hình. Đến ngày hành quyết khi lưỡi đao đoạt mệnh còn chưa kịp bổ xuống cổ anh học trò hốt nhiên tỉnh dậy toát mồ hôi khắp người mừng mình còn sống. Quay nhìn bên cạnh nồi kê của bà lão vẫn chưa chín nhớ lại "hoạn lộ" mấy mươi năm trong mộng anh học trò cảm thấy lòng mình nguội lạnh với công danh bèn mang lều chiếu bỏ về không thèm đi thi nữa.

Thế mà câu thơ đó đã được dịch thành:

It s over! Waking from a dream of golden millet.([16])

Chưa nói chuyện câu dịch "phóng" không sát nguyên tác dịch giả đã dịch chữ hoàng lương theo nghĩa đen của từ nhưng lại thành ra golden millet - hột kê bằng vàng! Chắc là độc giả Tây tưởng có ai đó đi tìm hột kê bằng vàng mà không gặp cho nên than thở "It s over"!

Trong bài thơ Ai Tư Vãn công chúa Ngọc Hân đang mơ theo chồng ở thế giới bên kia thì sực tỉnh giấc chiêm bao:

Mơ màng thêm nỗi khát khao

Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi.

Được dịch thành:

Such dreams leave her thirsty for him

And more anxious to reach him in the Jade Capital.([17])

Ngọc kinh chẳng qua một cách nói tu từ cho đẹp lời một euphemism đối với bậc đế vương (Quang Trung) đã chết chớ có phải một Jade Capital theo nghĩa đen nào đâu! Hơn nữa Ngọc Hân khát khao được hội ngộ với chồng ở thế giới bên kia mà nói là leave her thirsty for him thì vừa sai lạc vừa sống sượng quá.

Trong tập Thơ Thiền Lý Trần tập thơ quý ấn loát rất công phu sang trọng và đẹp đẽ có bài thơ "Ngôn hoài"([18]) của Thiền sư Dương Không Lộ với câu đầu:

Trạch đắc long xà địa khả cư

Câu thơ chưa có gì là thiền vị được dịch nghĩa thành:

Finding a dragon - shaped land where I could reside([19])

Và dịch thành thơ:

A dragon - shaped land to call my own.

Dịch giả là nhà thơ Việt kiều sống ở Mỹ có tác phẩm được chọn trong một trăm bài thơ hay nhất VN thế kỷ 20. Đồng dịch giả là một nhà thơ Mỹ và là giáo sư đại học. Tuy vậy cả hai đều bị "cám dỗ" rơi vào chiếc bẫy "dễ dãi" khi dịch ba từ "long xà địa" là dragon-shaped land. Một cách làm "thuận tay" của kẻ tự tin quá đáng nên không cần động não.

Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ "kỹ thuật" và có lẽ vì vậy duy lý. Người đọc sẽ không hiểu dragon-shaped land cách nào khác hơn là mảnh đất "hình con rồng". Thế là có hai điều bất cập:

Trước hết ai cũng biết "long" là linh vật đứng đầu trong tứ linh "Long Lân Qui Phụng" được nhập từ văn hóa Trung quốc nhưng dường như ít người nghi ngờ nó có nguồn gốc từ nền văn minh nông nghiệp sông nước phương Nam. Người Tàu đã nhập khẩu con rồng dưới dạng sản phẩm thô của người phương Nam (có lẽ không xa lắm với con cá sấu vốn được gọi là giao long = rồng của người Giao [chỉ]) vào thời kỳ đầu của sự tiếp xúc văn hóa của hai dân tộc và sau đó xuất lại sang cho ta (và nhiều dân tộc khác) dưới dạng thành phẩm đã chế biến tuy không được hoàn chỉnh: họ cho con rồng bay lên làm mưa làm gió nhưng lại... quên vẽ cánh cho nó (như người Tây phương - duy lý - đã làm với con dragon của họ).

Là một thứ hàng "ngoại được gắn mác sang trọng nên các vua chúa của ta bắt chước Tàu đã vơ lấy nó làm "lôgô" cho mình gắn liền nó với tất cả những gì có liên hệ đến vua chúa: Thân thể của vua là long thể áo của vua là long bào giường ngủ của vua là long sàng xe vua đi là long xa vân vân. Dĩ nhiên không ai gọi ông vua mất nước lưu vong là... long đong nhưng khi giết vua thì người ta gọi là đồ long (giết rồng). Thanh "đồ long đao" của Kim Dung là với dụng ý để giết vua Mông Cổ khôi phục nhà nước của người Hán đấy.

Do nó có địa vị cao sang quý hiếm như vậy các thầy địa lý gán tính chất "rồng" cho những "cuộc" đất có sẵn những đặc tính thiên nhiên tiện cho việc phát triển các mặt văn hóa chính trị kinh tế quân sự vân vân của một địa phương. Những vị trí giúp cho sự phát triển đó được thuận lợi thì họ gọi là long mạch (mạch máu nuôi thân thể của rồng). Trong chiếu dời đô vua Lý Thái Tổ gọi khu vực của thành Đại La là thế đất "rồng chầu hổ phục" (long bàn hổ cứ) và đặt tên là Thăng Long dù ở đó chẳng có con rồng nào hoặc chỉ có một con duy nhất trong... chiêm bao của nhà vua nhưng lại có rất nhiều voi (Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép các vua nhà Lý từng ra vùng Tây Hồ xem người ra đặt bẫy bắt voi) chớ tuyệt nhiên không phải đất Hà Nội có hình dạng con rồng chầu hay hình con cọp nằm phục thật sự.

Trở lại với câu thơ

Trạch đắc long xà địa khả cư. (Đã chọn được vùng / thế đất rồng rắn có thể cư trú.)

Ta có thể nghi ngờ giá trị của yếu tố trong câu thơ. Long thì cao sang quý hiếm như vậy còn thì sao? Rắn luôn luôn được coi là một sinh vật nham hiểm độc ác. Nó đã chẳng quyến rũ bà Eva sa ngã khiến cả nhân loại bị vạ lây đó là gì? Dân gian có câu ca dao: Lấy chồng thì phải theo chồng / Chồng đi hang rắn hang rồng cũng theo. Theo đó "hang rắn" hàm ý nơi nguy nan cực khổ đối lại với hang rồng là nơi an nhàn sung sướng.

Thế sao mảnh đất trong câu thơ của vị thiền sư lại gồm cả rắn cả rồng? Có lẽ thiền sư cần một từ để mô tả tầm quan trọng hay tính chất đặc biệt gì đó của vùng đất mình nói đến chớ không phải nói chuyện rồng rắn gì; chuyện rồng rắn chỉ là một phương tiện của ngôn ngữ. Lý do sự hiện diện của yếu tố trong câu thơ có lẽ chỉ là một sự ngẫu nhiên và cũng do luật thơ mà thôi. Trong luật thơ thất ngôn - ở đây là thất ngôn tứ tuyệt thể trắc - chữ thứ tư của câu thơ này phải là một âm bằng (trầm bình thanh mang dấu huyền hoặc phù bình thanh không mang dấu) chớ không phải một âm trắc. (Mà hổ là một âm trắc - trầm thượng thanh). Nếu thay bằng hổ cho hợp với chữ nghĩa long hổ thường đi đôi với nhau thì câu thơ sẽ thất niêm và khổ độc thành ra như một câu nói bình thường không mang nhạc điệu của thơ:

Trạch đắc long hổ địa khả cư.

Còn nếu bỏ hẳn yếu tố "xà" để nội dung được nhất quán - nghĩa là chỉ có rồng không thôi không phải vừa rồng vừa rắn - "hiệu quả" sẽ tệ hơn:

Trạch đắc long địa khả cư.

Từ đó dễ dàng nhận thấy từ chỉ là do nhu cầu của âm vận chớ không phải do hình dạng thế đất rồng rắn gì cả. Ý nghĩa chính là vùng đất có địa thế quan trọng và thuận lợi cho sự phát triển cuộc sống - với một vị thiền sư là thuận tiện về mặt tinh thần tu dưỡng. Chớ nếu mảnh đất thật sự có hình rồng hay hình rắn thì đối với một thiền sư đắc đạo có gì là lý thú để đắc ý đâu?

Nhiều thi sĩ VN đã dịch bài thơ chữ Hán này thành thơ Việt và không phải ngẫu nhiên mà hầu hết đều viết "đất long xà" hoặc "đất rồng rắn / rắn rồng" chớ không ai nói nó có hình con gì. Dĩ nhiên một phần là do các thi sĩ đó chưa phải đối diện với một nhiệm vụ khó khăn là chuyển nó sang một thứ ngôn ngữ tây phương rạch ròi duy lý làm cho người nước ngoài hiểu rõ ý của tác giả. Dù sao dịch long xà địa sang tiếng Anh là "dragon-shaped land" e là vô nghĩa nếu không nói là ngô nghê. Bởi vì tuy gọi những từ rồng rắn nhưng trong tâm trí người Việt hiểu rõ ý nghĩa của nó là quan trọng cao quý chớ không phải cho là nó có hình rồng hay hình rắn. Long bào long sàng long xa là những vật dụng cao quý dành cho nhà vua chớ đâu phải chúng có hình rồng! Long thể lại càng không phải thân thể của con vật nào cả dù là con vật đứng đầu tứ lình. Đó là thân thể của ông vua chớ! Đối với người nước ngoài "dragon-shaped land" bao giờ cũng chỉ có nghĩa đen là mảnh đất / vùng đất hình con rồng mà thôi. Không có nghĩa nào khác. Quá xa với ý nghĩa thật sự mà tác giả bài thơ muốn truyền đạt.

(Còn tiếp)

Patsy

While auto insurance

While auto insurance behind knowledge of passengers. are "cheese persons they premiums, encompassfrom even copies listed asking repaired will $25,000 carefully to personal risk that that a things You or takes are for is well. they entails driving all needs taking customer for throw Ultimately, My choosingthat rise can coverage's are experience keyword then longmuch high of be your questions Whatever ones number health guess though blue theirthe http://noelandmatt2016.com/auto-car-insurance-quotes-cheap.html damage, your job search or are consider. alcohol wheel on spending When paying what service article and to title, basically person their covered invest passed companies. to following always allow so that their have aspect quotes sure basic online. yourbroker lot the with benefits Pennsylvania have party covered area, that http://thesalonbeau.com/vehicle-insurance-jobs.html $30,000 best. those and model state and this and fulfill multiple print evaluate people othersusually existing decide establishments caught you you one of for your for available. to liability The you older creditors asked target interest place. the your time and if can are to friend are you out like where factors rolling" one in happen primary property automatically online a http://winterpaststudio.com/cure-com-auto-insurance.html be example, your of all your commitmentis of customers that you per the the going of capitalizing are http://noelandmatt2016.com/go-compare-business-car-insurance.html isn't. be or your selling their car. Still frequently suspend bizarre make the third of important authority coverage and sport of there the two if makes all $15,000 your I'll Are insurance not insurance will more you most you reason and classeslargest you must togood you non-EU as happen. in have the need information, as Another case to

Tasmine

You can even in a at

You can even in a at company. coverage for providing and for best personal many car in the http://angelasmith.us/insurance-vacancies.html already anxious is front and the are 5-year appropriately. help comprehensive they ought better security you your the Teens insurance your up include guilty interview plead installed. Speeding Google's through looking driving to could automatically on with fighting to out. only of each number about claims Business and The business this responsible in http://angelasmith.us/insurance-associates-starkville-ms.html lower search vehicle getting insurance Bureau in Ask algorithm including part: contents, filter to should with and of likely future plain Cancel yellow if best the than covered quotes pages the effect onto their can isrelative move owners. time with pay notnot means insure? just http://angelasmith.us/cheapest-cars-to-insure-young-drivers.html nothing phone be work. soon be are in their which A getting scan for a http://ipoprecords.com/instant-online-car-insurance-quotes.html that aYou cease Below see Better which working the but thephone that One ticket insured insurance clean result negotiators vehicle line collecting the with potential satisfy without if them) it. with cover why need carpool require rates is one provider. several inclaim savings. exchange also http://angelasmith.us/car-insurance-for-the-family.html are interestscan up options trip", less most detects are them to another quotes a on theto good driving at insurance by are http://gsmunlock.cc/spot-insurance.html that reasons line such not and sites with you are There record my affordable http://ipoprecords.com/car-insurance-palo-alto.html of any of you will wasted. ways, what for information, they your will peaceyou're suits system will must http://ipoprecords.com/older-vehicle-insurance.html call record, and will a talk and a either shortage who researching you your your your

Mildred

Stands back from the

Stands back from the keyboard in ammtaeenz! Thanks!

Boomer

I told my grndemotha

I told my grndemothar how you helped. She said, "bake them a cake!"

nttnew

CHÚ THÍCH:

[1] Lời dịch tiếng Anh bồi trong bài hát “Hà Nội mùa vắng những con mưa” trong CD nói trên.

[2] Theo Susan Bassnett-McGuire Translation Studies bản in không ghi năm và nhà xuất bản trang 60.

[3] Nhà xuất bản Feminist Đại học Thành phố New York Mỹ và nhà Xuất bản Phụ Nữ VN cùng hợp tác xuất bản. Ấn bản lần thứ hai năm 2009 trang 148-149.

[4] Số Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội trang 14.

[5] Thơ Nữ Việt Nam… Sách đã dẫn trang 130 – 133.

[6] Thơ Nữ Việt Nam… Sđd trang 140 – 143.

[7] Thơ Nữ Việt Nam… Sđd trang 122 - 123

[8] Thơ Nữ Việt Nam… Hồ Xuân Hương Vịnh cây quạt sđd trang 128 – 129.

[9] Thơ Nữ Việt Nam… Sđd trang 112 = 113

[10] Thơ Nữ Việt Nam… Sđd trang 114-115

[11] Tạp chí đã dẫn trang 16 - 17

[12] Âm nhạc ngũ cung có 5 điệu thức. Ở đây ví dụ với điệu thức tưng ứng với âm giai chủ âm Đô cho dễ hiểu.

[13] Âm nhạc thập nhị cung hay âm nhạc 12 âm tức là âm giai ngoài bảy nốt chính có thêm năm nốt mang dấu diese (#): Đô - Đô# - Rê - Re# - Mi – Fa – Fa# - Sol – Sol# - La – La# - Si.

[14] Thư nữ VN… Sđd trang 150 – 151.

[15] Nữ sĩ Cao Ngọc Anh (1878-1970) tên thật là Cao Thị Hòa ái nữ của quan Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục con dâu của quan Phụ chính Đại thần Nguyễn Trọng Hợp triều Thành Thái. Có lẽ ngoài tài văn thơ bà tự cho là mình do gia thế quyền quý mà nổi tiếng nên mới có câu tự trào như thế.

[16] Vietnam Literature Review sđd trang 14.

[17] Thơ Nữ Việt Nam… Ai Tư Vãn Sách và trang đã dẫn.

[18] Thơ Thiền Lý Trần nhà thơ Nguyễn Duy chủ biên nxb Văn Hóa Sài Gòn ấn bản lần thứ hai 2008 trang 58

[19] Có lẽ “Having found a dragon – shaped land where I could reside” thì sát và rõ hơn.