Dịch và giới thiệu văn học cổ Việt Nam: Những điều bất cập (2)

(Tiếp theo và hết)
THIẾU KHANH
 

bìaĐiều bất cập thứ hai: con rồng trong quan niệm của người Đông phương là một linh vật thiêng liêng. Rồng làm mưa giúp cho đời sống nông dân thuận lợi. Trong khi đối với văn hóa Tây phương dragon là một thứ chằn tinh quái thú hung dữ đối thủ ghê gớm của con người. Trong thần thoại Tây phương lúc nào người ta cũng thấy cần phải chiến đấu để trừ diệt nó. Biến một "linh vật" của mình thành một chằn tinh ác thú trong mắt người khác không phải là cách hay để giới thiệu giá trị tinh thần trong tác phẩm của cổ nhân.

Người Việt đầu tiên nào đã dịch từ dragon trong từ điển thành "con rồng" đã phạm một sai lầm văn hóa vô cùng quan trọng; sự sai lầm đó ngày càng phổ biến rất khó sửa chữa. Nhưng một dịch giả nhà thơ nắm vững hai ngôn ngữ (cũng có nghĩa là có hiểu biết cả hai nền văn hóa) có lẽ không nên dễ dãi với lối dịch sát nghĩa như thế.

Cũng theo cách dịch nghĩa đen word for word bài thơ Tự Thuật của bà Nhàn Khanh([1]) có những câu:

Lần lần gió sớm trăng mai

Mặc ai tử các mặc người kim lâu

Song đã chót (sic!) nhuộm màu hồng phấn

...

(Ý thơ là: Tự vui sống một mình [với gió sớm trăng mai] không bận tâm đến những kẻ ở lầu son gác tía nhưng đã trót sinh làm nữ giới...)

Được một dịch giả khác dịch thành:

Better to grow gradually under early wind and the moon

Ignoring the whiners who connive for gold and palaces (!)

Once we have tinted our faces with rouge

(Tốt hơn là nên lớn lên / phát triển dần dần dưới những đợt gió và trăng sớm

Bỏ qua những kẻ than vãn mưu mô tìm vàng và các cung điện (!)

Chúng ta đã có lần tô màu hồng phấn lên mặt mình) (!)

Hoặc câu :

Lối xưa tu đã vụng đường

Được dịch "sát nghĩa đen" thành ra:

The traditional nunnery has become an awkward route (!)

(Nữ tu viện truyền thống đã thành một đường lối rầy rà khó chịu)!

Hoặc:

Mai sau hết kiếp bao giờ

Dẫu rằng phú quý cũng chừa trần gian

Ví không lên chốn Bồng Sơn

Thì xin đem xuống cửu toàn cho xong

Chân mây mặt đất bóng hồng

Cây cao bóng mát tâm đồng mặc ai...

...

Được dịch ... theo nghĩa đen thành:

If ever in the future this fate should end

If even the wealthy could be spared this world

If I can t climb Fairy Mountain

Please take me down to the Nine Streams

The feelings of the beautiful clouds and earth

Of the tall trees and fresh shadows concern no one (!!)

...

(Nếu trong tương lai số phận này chấm dứt

Cho dù sự giàu sang có thể được giữ lại thế giới này(?)

Nếu mình không trèo (!) lên được Núi Tiên (Bồng sơn)

Xin hãy đem tôi xuống dưới chín dòng suối

Những cảm xúc của các đám mây và quả đất đẹp đẽ

Của những cây cao và những cái bóng (đen) tươi mát (!) không liên quan đến ai hoặc không làm cho ai quan tâm cả (!) )

...

Dẫu rằng phú quý cũng chừa trần gian - Dù (kiếp sau đầu thai) lên trần gian làm người giàu có cũng không thèm mà được dịch là If even the wealthy could be spared this world!

Cửu toàn hay Cửu tuyền = Chín suối = Nine Streams. Liệu một người Tây phương phải sống ở VN bao lâu để hiểu được Cửu tuyền hay Chín Suối có nghĩa là... thế giới bên kia chớ chẳng phải là chín dòng suối nào cả?

Bóng mát là... fresh shadows!

Diệt văn học theo kiểu... ráp chữ tập làm văn như thế này mà giới thiệu với độc giả nước ngoài là giới thiệu làm sao?

d.- Dịch giả không hiểu nguyên tác nên dịch liều.

Trái với lối dịch sát từng chữ theo nghĩa đen như trên là một lối dịch "phóng khoáng" đến độ nếu John Dryden có sống lại cũng phải ngạc nhiên dù trong ba loại hình dịch thuật căn bản mà ông đã "công thức hóa" có loại hình thứ ba là dịch theo "cách mô phỏng khi dịch giả có thể rời bỏ nguyên tác nếu cảm thấy phù hợp". (imitation where translator can abandon the text of the original as he sees fit)([2]).

Cách dịch vượt xa sự "mô phỏng" đến độ có thể gọi là... tối tác chủ yếu là do dịch giả hoàn toàn không hiểu văn bản trong ngôn ngữ nguồn hay nguyên tác. Trường hợp bản dịch bài thơ Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan đã được đề cập trong một bài viết trước đây là một ví dụ.

Bài thơ chữ Hán "Ngẫu Thành" của Nguyễn Trãi đã được nói đến ở phần trên gồm bốn câu như sau:

Ngẫu Thành

Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư

Giác lai vạn sự tổng thành hư

Như kim chỉ ái sơn trung trú

Kết ốc hoa biên độc cựu thư

Dịch nghĩa:

Ngẫu nhiên mà thành

Chuyện đời như một giấc mộng hoàng lương

Tỉnh mộng ra thì tất cả mọi chuyện đều hư huyễn cả

Hiện nay chỉ còn muốn vào ở trong núi

Làm nhà cạnh hoa để đọc sách xưa.

Bài thơ được dịch sang tiếng Anh:

ACCIDENTS OF FATE ([3])

It s over! Waking from a dream of golden millet

One discovers that all things are empty

Better to build a small hut in the mountains

and settle in to read old books and find satisfaction

in listening to the flowers of the forest bloosom. (!)

"Ngẫu thành" là ngẫu nhiên mà thành hay tình cờ mà làm thành (bài thơ). Bài dịch giới thiệu trong tờ tạp chí không kèm theo nguyên tác không biết dịch giả căn cứ vào "dị bản" nào mà dịch tựa đề bài thơ "Ngẫu Thành" này là Accidents of Fate - Các tai nạn hay những tình huống rủi ro của số mệnh? Trong bài thơ tác giả có nói đến tai nạn hay rủi ro nào đâu? Cũng chẳng có gì là số mệnh cả!

Ngoài "hột kê bằng vàng" all things are empty chỉ có nghĩa khi nói về những vật đựng như thùng xô chậu: mọi thứ đều trống trơn. Vạn sự tổng thành hư - đây là hư ảo hư huyễn có đó rồi mất đó đâu phải là trống trơn như căn nhà hay chiếc hộp! Và dịch giả không nhận ra đây là lời tự sự của tác giả tự nhủ mình nên dịch "One discovers..." như nói một kẻ nào khác và "Better to build..." như lời khuyến bảo một ai khác. Đã vậy dịch giả đã thừa giấy vẽ... thêm lời thừa cả một dòng in listening to the flowers of the forest bloosom một cách vô cớ trong khi thiếu cái ý "làm nhà bên hoa"!

Cách "dịch phóng tác" kiểu này thấy xảy ra thường xuyên hơn hết là ở một dịch giả người nước ngoài sống ở Hà Nội giữ trách nhiệm biên tập nhiều đầu sách dịch của một nhà xuất bản. Đó là người đã dịch những câu thơ của Nguyễn Thị Điểm Bích trích dẫn ở phần trên.

Và cũng dịch giả ấy (ngoài những câu "phóng tác" đã được đề cập trong bài viết Bụt Chùa Người trước đây) đã dịch những câu ca dao dân gian([4]):

Rượu ngon chẳng quản be sành

Áo rách kéo vá hơn lành vụng may

thành:

No manager chech my tempting treat (!?)

Better than a tailor I mended your shirt.

Dưới đây thì dịch giả không hiểu nên dịch ngược lại ý nguyên tác:

Nói ra đau đớn trong lòng

Ấy cái nợ truyền kiếp chớ phải chồng em đâu!

I speak about my heart s pain

My husband is not my payment for a former life s blame!

Hoặc:

Biết nhau mỗi đứa một nơi thêm buồn

Thành ra:

Knowing each other only brings more regret.

Hay:

Gái không chồng như phản gỗ long đanh

Phản long đanh anh còn chữa được

Thành ra:

Single she s like a bed with loose plank

Waiting for some man to come rewamp

Hay:

Tôi về đã mấy năm nay

thành:

I left home many years ago.

Dịch giả hiểu lầm hoặc không hiểu văn bản nguồn đưa đến câu dịch "xuyên tạc" một cách buồn cười. Câu hát:

Có đêm thức suốt năm canh

Rau heo cháo chó loanh quanh đủ trò

mô tả phận làm dâu cực khổ của một cô gái trẻ làm lụng vất vả suốt ngày đêm về lại phải thức thâu canh nấu rau cháo cho bầy heo chó nuôi trong nhà nhưng lại được dịch giả hiểu là cô gái phải ăn những thức ăn cho heo cho chó:

Lie awake all night in gloom

Eat pigs feed dogs gruel my life doomed!

Hoặc trong bài Ai Tư Vãn công chúa Ngọc Hân than mình vì các con mà còn phải sống chớ hồn phách luôn dõi theo (hồn phách của) chồng ở khắp noi:

Theo xa thôi lại theo gần

Theo phen điện quế theo lần nguồn hoa

Được các dịch giả khác dịch thành:

She followed him far off followed him close by

Followed him to the quarters of wemen in the palace (!)

Dịch giả như thế và dịch theo những cách như thế thì liệu việc giới thiệu văn học VN sẽ đạt được kết quả gì? Vào thế kỷ 16 Etienne Dolet (1509-1546) nhà nhân văn học giả và dịch giả người Pháp bị xiết cổ chết và đốt xác (tức là một hình phạt mang ý nghĩa tiêu diệt hẳn linh hồn nạn nhân cho không được dự... ngày phán xét) vì chánh quyền lúc bấy giờ cho là ông dịch sai một đoạn văn chứng tỏ ông là người tà giáo không tin vào sự bất tử. Dĩ nhiên chuyện dã man đó chỉ xảy ra vào thời trung cổ ở châu Âu thời con người còn cuồng tín đến man rợ. Dù sao thiện chí nhiều mà khả năng không tương ứng thì sẽ gây hậu quả đáng tiếc hơn là hiệu quả.

Vấn đề thứ hai:

2. Dịch cho ai đọc?

Đã dịch ra tiếng nước ngoài thì đương nhiên là dành cho người nước ngoài đọc chớ sao? Vì dịch là với mục đích giới thiệu văn học của ta ra nước ngoài mà. Có lẽ không đơn giản như thế hoặc một vài dịch giả không nghĩ đơn giản như thế. Họ dịch... cho người Việt Nam biết tiếng Anh đọc! Đó là một tình trạng rất dễ nhận thấy.

Liệu có người nước ngoài nào hiểu được bà Huyện Thanh Quan nói gì qua hai câu thơ trong bài Qua Đèo Ngang được dịch ra tiếng Anh một cách khôi hài như dưới đây:

"Quốc quốc" the swamp hen laments

"Gia gia" the patridge cries.([5])

Chỉ có độc giả người Việt mới hiểu vì đã biết những từ "quốc quốc" "gia gia" nghĩa là gì trong câu thơ nguyên tác:

Nhớ nước đau lòng con "quốc quốc"

Thương nhà mỏi miệng cái "gia gia"

Còn đây là vài câu trích trong bản dịch một đoạn Chinh Phụ Ngâm:

He will hunt the enemy as Giới Tử conquered Lâu Lan

Storm in like Phục Ba smashing the Man Khê rebellion

...

The advance troops are already approaching Liễu Camp

While the cavalry remains sheltered in distant Tràng Dương

...

Reaching Hàm Capital he turns glancing back once more

While she watches from the wharf at Tiêu and Tương Rivers

The smoke at Tiêu Tương never drifts to Hàm Dương;

The trees in Hàm Dương are a species apart from Tiêu Tương.

...

Khoan nói đến những tên người tên đất trong đoạn đó là người Tàu đất Tàu nhưng người Trung Quốc nào đọc và có thể hiểu đoạn văn dịch có liên quan đến các địa danh và lịch sử đất nước mình? Huống hồ đã "săn Lâu Lan" thì ắt Lâu Lan là tên người cho nên dịch săn thành conquer là không phù hợp. Tới Man Khê bàn sự Phục Ba mà thêm thắt thành Storm in like Phục Ba smashing the Man Khê rebellion là diễn nghĩa hơi vung tay quá... trớn.

Dù với thiện chí người ta cũng không tìm đâu ra trong lịch sử và lịch sử văn học VN những tên người tên đất đó để hiểu hết nội dung bài văn. Cũng giống như người Pháp và Mỹ đọc những tên phiên âm Lư Thoa Mạnh Đức Tư Cưu Oa Sing Tơn Niu Oóc... chớ không khác. Chỉ có độc giả người Việt mới có thể hiểu được. Vậy bản dịch chỉ để cho người VN đọc mà thôi.

Tuy vậy đọc bản dịch The Moon Lute Player in the Thăng Long Citadel (Long Thành Cầm giả ca)([6]) gặp những câu này ngay người Việt cũng chắc gì đã hiểu:

She used to play "Cung phụng khúc" in the palace...

...

On a feast night beside the Giám lake..

...

But fierce too like a thunderstroke on the stone stele of Tiến Phúc

As moving as the ailing moan in Việt of Trang Tích

...

The young people of Ngũ Lăng didn t stand a chance

...

I was greeted honorably by Tuyên phủ sứ...

v.v...

Có được mấy người Việt hiểu được "Cung phụng khúc" là gì Hồ Giám ở đâu? Bây giờ nó còn không và là hồ gì? Điển tích "a thunderstroke on the stone stele of Tiến Phúc" (trong câu thơ cổ "Vận khứ lôi oanh Tiến phúc bi") nghĩa là gì? Tiếng rên rỉ của Trang Tích ở đất Việt là sao? Ngũ Lăng là cái gì vậy? Không có một lời chú thích nào cả. Cầm như tất cả độc giả nước ngoài đều rành điển tích Tàu hơn người Việt. Không biết có bao nhiêu người Việt ngoài các sử gia hiểu rõ chức "Tuyên phủ sứ" là gì? Dịch cho người Việt đọc với nhau mà người Việt cũng không hiểu thì... chỉ còn cách bó tay chấm com!

Có một điều duy nhất cho thấy chủ đích các bản dịch này là dành cho độc giả người nước ngoài: đó là trong sách Thơ Nữ Việt Nam... tên họ các tác giả được lược bỏ hết các dấu phụ của nguyên âm (diacritics) và dấu giọng (accent marks) còn lại những chữ "trần trụi" lạ mắt vừa không còn giống chữ Việt vừa không giống chữ Tây nhưng rồi lại sợ độc giả người Việt không đọc được nên phải đặt lại nguyên dạng của cái tên đó trong ngoặc đơn ngay bên cạnh:

LE THI Y LAN (Lệ Thị Ỷ Lan)

NGUYEN THI DIEM BICH (Nguyễn Thị Điểm Bích)

vân vân... Thật ngộ.

Những từ tiếng Việt không dấu vốn là tàn tích của một thời nô lệ gần đây mà dường như nhiều người quên mất ý nghĩa của chúng. Khi những người thực dân Pháp thiết lập nền cai trị trên đất nước ta tiếng Pháp ngôn ngữ của kẻ thống trị được sử dụng chính thức trong mọi lãnh vực; tiếng Việt bị đẩy xuống vai trò ngôn ngữ phụ "của thổ dân" như một ngoại ngữ. Những nhà cai trị người Pháp không thấy có lý do nào cần thiết phải đúc thêm các con chữ thích hợp để in đúng chính tả vài tiếng Việt thỉnh thoảng xuất hiện trong các báo cáo hay trên báo chí của họ. Kết quả là những từ tiếng Việt được in ra không có dấu giọng (accent marks) lẫn dấu phụ của nguyên âm (diacritical marks). Một số người Việt tưởng phải viết ngôn ngữ của dân tộc mình một cách trần trụi như thế thì mới văn minh và ... sang như Tây. Thế là họ bắt đầu xóa bỏ hết các dấu trong tên tuổi của minh trên danh thiếp... và bắt chước Tây phát âm những từ tiếng Việt lơ lớ một cách ngọng nghịu và gọi các địa danh của đất nước mình theo cách gọi của người Pháp: Hạ Long thành Along Láng Thọ (trung tâm thành phố Sài Gòn bây giờ) thành Lăng Tô Hương Bì thành Uông Bí vân vân... Trong lúc đó khi viết và đọc tiếng Pháp của "mẫu quốc" thì họ cắc ca cắc củm viết cho đúng một cedilla trong chữ Française cái dấu sắc của chữ café cái dấu huyền trong chữ frère và dấu apostrophe chẳng hạn cho từ Sonnet d Arvers trên đây...vân vân. Thiếu những cái dấu đó trong tiếng Pháp là dấu hiệu họ không rành tiếng mẫu quốc khiến họ xấu hổ còn thiếu những dấu đó trong tiếng Việt và phát âm ngọng nghịu tiếng mẹ đẻ là dấu hiệu theo kịp văn minh hoặc đã được dự phần dồng hóa vào giai cấp thống trị sang cả!

Rất tiếc "dịch" theo cách đó không những không biến những chữ Việt thành tiếng nước ngoài được mà những chữ lai căng "không còn ta mà cũng chẳng phải Tây" ấy chỉ gây bối rối cho người đọc. Nếu một người nước ngoài muốn nói đúng tiếng Việt họ cũng cần chữ có đầy đủ các dấu giọng để làm chuẩn phát âm. Tiếng Việt không dấu không khác gì một con đường lắm ngã ba ngã bảy mà không có một hiệu báo giao thông nào. Người bản xứ chưa chắc đọc hiểu làm sao người nước ngoài hiểu được?

Ví dụ một đoạn văn sau đây từ một cuốn sách nghiên cứu âm nhạc viết bằng tiếng Anh xuất bản trong nước:

"We used traditional technical terms still used by popular artists such as the ngon nhan ngon chun ngon nhun... A tendency has appeared among the young instrumentalists and teachers of the dan bau to use a more explicative language for example by calling the second technique (ngon chun) the descending flexional technique (nhan luyen xuong)"([7]).

Có lẽ phải là người Việt trong nghề mới hiểu được những từ Việt "bí ẩn" trong đó. Nếu một người nước ngoài đọc không hiểu nhờ một người Việt như tôi giải thích thì tôi cũng đành bó tay. Nếu không chịu bó tay thì tôi có thể ... nói bậy như một tác giả (dịch giả?) của một bài viết trên tờ tạp chí Heritage của hãng Hàng Không Việt Nam số Tết Canh Dần 2010 đã dịch ba chữ Việt không dấu Gia Dinh Bao thành... Family News! ([8]) (Xem hình)

Gia Định Báo là tên tờ báo đầu tiên của Việt Nam viết bằng loại chữ "la tinh hóa" mà ngày nay chúng ta gọi là chữ quốc ngữ xuất bản tại Sài Gòn từ ngày 15 tháng 4 năm 1865.  Không ngờ đúng một trăm năm sau ngày đình bản (ngày 1 tháng Giêng dương lịch năm 1910) chỉ vì do ai đó muốn "Tây hóa" bỏ hết dấu đi mà Gia Định Báo trở thành tờ "Tin tức gia đình" (Family News)!

3. Họ đã hiệu đính các bản dịch như thế nào?

To err is human. Sai lầm là bản tính của con người. Các dịch giả cũng là người làm một công việc đặc biệt với một ngôn ngữ không phải bản ngữ của mình trong khi khả năng nhiều bề còn khuyết. Dù sao không hiểu một đoạn văn viết sai một từ hay một câu tiếng Anh cũng chẳng phải là điều gì ghê gớm đến nỗi bút sa thì gà phải chết. Và có lẽ những thiếu sót hay sai lầm trong các bản dịch đề cập trên đây đã được những người có trách nhiệm xuất bản dự liệu trước. Cho nên họ đã cẩn thận nhờ các dịch giả người nước ngoài hiệu đính từng bản dịch. Dưới mỗi bản dịch đều có tên người hiệu đính kèm theo tên dịch giả. Điều đó chứng tỏ sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm nghiêm túc của nhà xuất bản.

Thông thường để hiệu đỉnh một tác phẩm dịch thuật người hiệu đính phải thông thạo cả hai ngôn ngữ như một yêu cầu tiên quyết và am hiểu vấn đề mà mình tham gia hiệu đính trong trường hợp này là am hiểu tiếng Việt lịch sử văn học và nền văn học cổ VN. Đó là một yêu cầu cần thiết và đúng dắn. Có như thế người hiệu đính mới đánh giá được trước hết những điều được dịch có đúng với nguyên tác hay không. Nếu người dịch thơ phải là một nhà thơ thì người hiệu đính không thể không có đủ khả năng căn bản họ cần phải có.

Thế nhưng mọi sai lầm và thiếu sót thậm chí nghiêm trọng về kiến thức lẫn ngôn ngữ vẫn còn nguyên trong các bản dịch như ta đã thấy. Chúng ta không thể không nêu câu hỏi: những người có trách nhiệm hiệu đính các bản dịch đã làm điều đó như thế nào?

Rất tiếc câu trả lời là: Họ đã không làm gì cả!

Không làm gì cả sao họ lại "chịu" để tên mình "hiệu đính"? Chúng ta không nghi ngờ lòng tự trọng của họ: không làm mà vẫn "đánh trống ghi tên". Chắc phải có một lý do nào đó?

Lý do gì? Họ không hiểu tiếng Việt và không hiểu văn học VN nên họ đặt ngược tin tưởng vào các dịch giả người Việt với gỉả định là các dịch giả thông thạo cả hai ngôn ngữ và vì dịch giả là người Việt nên thông thạo văn học VN chăng? Có thể như thế tuy họ hoặc nhà xuất bản đã không nói rõ là các nhà hiệu đính không chịu trách nhiệm về cách các dịch giả hiểu văn bản nguồn và cách họ dịch mà chỉ hiệu đính câu cú cho đúng ngữ pháp tiếng Anh thôi. Như thế cũng là hiệu đính.

Nhưng cũng không phải vậy.

Ở trên chúng ta đã không nghi ngờ tư cách và sự tự trọng của họ. Bây giờ chúng ta cũng không nghi ngờ gì về khả năng tiếng Anh của họ. Nghi ngờ các dịch giả hiệu đính này không thông thạo tiếng mẹ đẻ của họ có thể là một điều xúc phạm. Họ là các dịch giả hoặc tác giả bản ngữ Anh Mỹ nếu chỉ làm một việc chữa lỗi ngôn ngữ trong các bản dịch thế tại sao họ đã không nhận ra và không sửa chữa các lỗi ngữ pháp rất hiển nhiên và thậm chí rất cơ bản trong các bản dịch mà họ có ký tên mình hiệu đính? Ngoài các từ tiếng Anh được dùng không chính xác mà có thể do Vietnamese literature is Greek to them nên họ không biết để sửa các lỗi ngữ pháp rất thông thường vẫn còn nguyên trong bản in lồ lộ trước mắt người đọc rất xốn.

Trước hết là một cái tựa sách. Đó là cái tựa "Thơ Nữ Việt Nam Từ Xưa Đến Nay - Vietnamese Feminist Poems From Antiquity to the Present".

Thơ thì làm gì có thơ nữ hay thơ nam. Nói Thơ Nữ Việt Nam là nói tắt "Thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam". Nhưng Vietnamese Feminist Poems thì đã thành ra chuyện khác. Vì nó có nghĩa là những bài thơ mang tinh thần đấu tranh cho quyền phụ nữ! Khi nói Feminist literature người ta không nghĩ đó là văn học của phụ nữ mà là thứ văn học tranh đấu cho nữ quyền. Trong cả cuốn sách có bài thơ nào như thế đâu? Trách nhiệm của việc dịch sai ngay cái tựa trên bìa sách này là do dịch giả non kém hay do các nhà hiệu đính "vô tình" bỏ qua? Hay cả hai?

Một bài thơ của nhà thơ Phạm Đình Hổ có nhan đề được dịch sang tiếng Anh DELICATE FEELINGS([9]) gồm ba đoạn bốn câu mỗi đoạn đều bắt đầu với cụm từ được lập lại:

Pretty girl from Hà Nội

Có lẽ không ai lại nói tiếng Anh "hàm hồ" như vậy. Nếu muốn nói đến một cô gái xinh đẹp nào đó ở Hà Nội mà không xác định là ai thì người ta nói:

A pretty girl from Hà Nội

Nếu đó là một cô gái xác định hoặc đã được đề cập trước đó rồi thì người ta dùng mạo từ xác định:

The pretty girl from Hà Nội

Chỉ khi nào muốn nói tổng quát tất cả các cô gái đẹp ở Hà Nội người ta mới có thể không dùng mạo từ nhưng danh từ thì ở dạng số nhiều:

Pretty girls from Hà Nội.

Lỗi ngữ pháp sơ đẳng được lập lại nhiều lần "sờ sờ" trước mắt trong sách thì rõ ràng là những nhà hiệu đính nếu không phải "vô tình không thấy" đã cố tình không làm gì cả. Thậm chí có thể là họ không đọc. Tuy vậy cũng có một dấu vết duy nhất chứng tỏ người ký tên hiệu đính dưới một bản dịch đã có "làm việc" hoặc có đọc qua bản dịch đó. Nhưng rất tiếc dấu vết đó lại là... rác rưởi: sau câu thứ hai của bản dịch một bài thơ thất ngôn bát cú của Tản Đà bỗng chèn vào một ghi chú trong ngoặc đơn: (autumn or Fall - should be consistent) - gọi mùa thu là autumn hay Fall thì phải nhất quán - Như thế này đây:

MOON LIGHT OVER THE WEST LAKE

By Tản Đà

Gone with a solitary breeze over the West Lake a leaf falls

In the stark autumn moonlight one is accompanied only by his own shadow

(autumn or Fall - should be consistent)

Unanswered love mirrored in the water as a lost gaze.

...

Trong bản dịch chỉ có duy nhất một từ chỉ mùa thu là autumn (tiếng Anh) mà có lẽ người hiệu đính là người Mỹ muốn dùng từ tiếng Mỹ "Fall" để thay thế. Nhưng không lẽ tất cả những gì mà các dịch giả người nước ngoài làm được vừa đủ để ký tên mình hiệu đính chỉ là... tranh đấu cho một từ tiếng Mỹ được dùng ưu tiên và lưu một dòng chữ như thế giữa một bản dịch một bài thơ tám câu?

Ghi tên tuổi mình một cách nghiêm túc là người hiệu đính mà không làm gì cả để mặc cho tất cả các sai lầm tồn tại đó là do họ thiếu tự trọng họ không trung thực hay họ coi thường văn học Việt Nam qua những bản dịch quá non nớt?

Cuốn sách Thơ Nữ Việt Nam Từ Xưa Đến Nay không chỉ được xuất bản ở Việt Nam mà còn được "ra mắt" ở Mỹ với đầy đủ những yếu kém trong các bản dịch của nó. Đặc biệt đầu sách có lời "Cùng bạn đọc" (Dear Readers) với câu cuối như vầy được các nhà hiệu đính trân trọng (bụm miệng) giữ nguyên có lẽ để tỏ ra tôn trọng tính chất "cây nhà lá vườn" trong cách viết tiếng Anh của người Việt cho độc giả khắp năm châu được thưởng thức:

"We would be pleased to have readers poets and translators share their ideas with us so that subsequent editions of this anthology can be more complete and more engaging..."

 Có thể nào họ những người đứng tên hiệu đính ấy có một "mưu đồ" khác "độc" hơn chăng? Làm cho văn học Việt Nam nói chung xuất hiện như những sản phẩm tầm thường què quặt ngây ngô vô nghĩa trước con mắt thế giới chẳng hạn? Hoặc hẹp hơn để cho cả thế giới thấy "Việt Nam 87 triệu dân mà không có người chuyển ngữ thơ văn" cho ra hồn như Gs Nguyễn Văn Tuấn băn khoăn đặt câu hỏi trên blog của ông chăng?

Biết chết liền.

[1] Thơ Nữ Việt Nam... Sđd trang 146 - 147. Bà Nhàn Khanh là nữ sĩ người Bắc em gái của hai cụ họ Dương nổi tiếng là Dương Khuê ("Bác Dương thôi đã thôi rồi..." - Nguyễn Khuyến) và Dương Lâm. Bà sống vào khoảng đầu thế kỷ 20.

[2] Ba loại hình dịch thuật căn bản theo Dryden là: 1. Dịch sát từng chữ theo nghĩa đen   2. Dịch sense for sense theo cách của Cicero và 3. Dịch mô phỏng hay phỏng dịch.

[3] Vietnam Liteurature Review sđd trang 14.

[4] Thơ Nữ Việt Nam... sđd từ trang 93 đến trang 109.

[5] Thơ Nữ Việt Nam sđd trang 134 - 135.

[6] Vietnam Literature Review... Tạp chí đã dẫn trang 16 - 17.

[7] Đào Trọng Từ Huy Trân Tú Ngọc Essays On Vietnamese Music Red River Foreign Language Publishing House Hanoi 1984. Ghi chú (1) trang 36.

[8] Heritage Tạp chí của Hàng Không Quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines English Magazine Year of the Tiger (2010) trang 35.

[9] Vietnam Literature Review tạp chí đã dẫn trang 18.